Triển khai thực hiện chỉ đạo của Bộ Công Thương về quy hoạch thương nhân kinh doanh xuất khẩu gạo theo Nghị định 109/2010/NĐ-CP của Chính phủ, An Giang hiện nay có 13 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu gạo theo quy định của Chính phủ; năng lực chế biến hằng năm từ 1,5-1,6 triệu tấn/năm; có vùng  nguyên liệu, gieo trồng theo quy trình Global GAP có khả năng truy suất nguồn gốc,...Các sản phẩm gồm có gạo trắng hạt dài 5% đến 100% tấm, gạo thơm, gạo đồ, nếp, gạo đặc sản địa phương...Thị trường xuất khẩu đã xuất khẩu trên 63 quốc gia.
Đối với ngành hàng thủy sản An Giang được xem như là chiếc nôi của nghề nuôi cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay, toàn tỉnh có 16 doanh nghiệp với 22 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, với tổng công suất thiết kế lên đến 320.000 tấn/năm, trong đó công suất chế biến hàng giá trị gia tăng là 5.000 tấn, với hơn 28.000 lao động, tổng vốn đầu tư gần 2.000 tỷ đồng. Các doanh nghiệp có vùng nuôi được kiểm soát dưới hệ thống GAP và có khả năng truy suất nguồn. Xuất khẩu qua 77 quốc gia, chủ yếu tập trung ở thị trường Châu Mỹ; Châu Âu và Châu Á.
Trong bối cảnh nước ta hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới, chúng ta cần phải thấy rõ được thực trạng trong hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp hiện nay, từ đó xây dựng giải pháp thúc đẩy nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp là một trong những nhân tố góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của, lại bộc lộ nhiều yếu kém và hạn chế như:
Một là, năng lực quản lý kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, thiếu khả năng phân tích thông tin thị trường, chưa quan tâm đúng mức đến khâu xúc tiến thương mại.
Hai là, khả năng tiếp cận các nguồn vuốn vay chính thức từ các ngân hàng thương mại, cũng như nguồn vốn hỗ trợ bị hạn chế do thiếu điều kiện thế chấp vả khả năng xây dựng phương án kinh doanh.
Ba là, năng lực cạnh tranh của các doang nghiệp còn yếu, công nghệ lác hậu, thường sản xuất manh mún. Tính liên kết hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất kinh doanh còn hạn chế.
Bốn là, các sản phẩm là sản phẩm chủ lực của tỉnh chưa có nhãn hiệu và thương hiệu đã làm ảnh hướng đến giá trị xuất khẩu của các mặt hàng.
Năm là, chưa quan tâm đúng mức đến kết nối thị trường cho việc quảng bá và tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế. Điều này làm cho các sản phẩm của daonh nghiệp ít được phân phối qua kênh tiêu thụ hiện đại (siêu thị).
Trước thực tế trên, Sở Công thương tỉnh An Giang đề xuất các nhóm giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các Doanh nghiệp trên đại bàn tỉnh trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế như sau:
1. Đẩy mạnh liên kết doanh nghiêp trong cùng một ngành hàng và trong Vùng.
Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải bắt tay hợp tác, biến những thách thức thành những cơ hội, doanh nghiệp cần xác định rõ trong giai đoạn hội nhập đối thủ cạnh tranh trực tiếp là các doanh nghiệp ngoài nước chứ không phải là các doanh nghiệp trong ngành. Sự tuân thủ các quy tắc đã cam kết là yếu tố mang tính quyết định bước đầu và doanh nghiệp phải thực hiện một cách nghiêm túc. Từ đó doanh nghiệp sẽ hình thành và phát triển liên kết hướng tiếp cận thị trường theo chuỗi giá trị hàng hóa, trong đó đối với một ngành hàng sản xuất không chỉ có đối tượng là doanh nghiệp mà sẽ là một chuỗi khép kín theo chuẩn mô hình nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ.
2. Nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu và xây dựng thương hiệu
Tổ chức lại sản xuất, liên kết giữa các bên lại, tăng hàm lượng về quản lý chất lượng sản phẩm cũng như khẳng định thương hiệu, giúp tăng chất lượng sản phẩm cũng như tăng thêm giá trị mới để chia cho các bên trong các chuỗi giá trị. Để làm được điều này trước hết phải tổ chức lại sản xuất ngành; trong đó trọng tâm là thúc đẩy quá trình xây dựng mô hình liên kết, phải có sự liên kết chặt chẽ theo chuỗi giá trị sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Trong đó, xác định doanh nghiệp là tác nhân quan trọng nhất chi phối đến hoạt động của chuỗi, đến từng tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm thông qua các cam kết về giá bán và giá thu mua nguyên liệu theo tín hiệu của thị trường, tạo tiền đề cho sự tham gia sâu và rộng hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, cụ thể hóa việc củng cố và phát triển 3 hệ thống giống, canh tác và hỗ trợ dịch vụ hậu cần, logistic làm nền tảng vững chắc cho chương trình chất lượng và thương hiệu sản phẩm cho vùng trọng điểm Vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
3. Xây dựng chiến lược xuất khẩu và phân khúc thị trường
+ Đối với mặt hàng gạo: Trên thị trường xuất khẩu gạo hiện nay, đối thủ cạnh tranh lớn của Việt Nam là Thái Lan và Ấn Độ, hai nước này không tham gia TPP, do đó gạo sẽ có lợi thế hơn trong xuất khẩu gạo nội khối TPP. Để nắm bắt thời cơ, cần có chiến lược xuất khẩu gạo một cách cụ thể. Trong đó, quy hoạch các vùng trồng lúa đảm bảo sản lượng gạo chất lượng cao, ổn định cho xuất khẩu.
+ Đối với mặt hàng cá tra: đẩy mạnh xuất khẩu vào các nước thành viên, chú trọng giữ vững thị trường xuất khẩu cá tra ở Mỹ; đẩy mạnh nghiên cứu áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt là sản xuất con giống chất lượng cao, thức ăn... tránh quá phụ thuộc vào nhà đầu tư nước ngoài (các doanh nghiệp FDI) để nâng cao năng suất, chất lượng và giảm giá thành sản phẩm.
4. Chú trọng phát triển thị trường nội địa
Ngành nông nghiệp cũng như nuôi trồng thủy sản còn sản xuất theo quy mô nông hộ gia đình là chính, mang tính tự sản xuất, thủ công, công nghệ sử dụng còn yếu kém; tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập của nước ta với Hiệp định TPP có thuế suất giảm về gần 0% đối với hầu hết hàng hóa, dịch vụ, làm cho hàng hóa từ các quốc gia trong khu vực cũng như thế giới có cơ hội thâm nhập vào thị trường Việt; nếu cứ duy trì cách phát triển và quản lý như hiện nay thì giá trị xuất không tăng mà thị trường nội địa cũng sẽ bị chia nhỏ. Qua nghiên cứu, kinh nghiệm từ thị trường Nhật Bản, các sản phẩm trước tiên tiêu thụ tại thị trường trong nước, từ đó mới đẩy mạnh sản xuất cung ứng ra thị trường thế giới (Xây dựng thương hiệu sản phẩm trước tiên từ trong nước, quan niệm người tiêu dùng trong nước biết rõ nhất về sản phẩm của doanh nghiệp). Giải pháp hiện nay đối với doanh nghiệp, cần nâng cao chất lượng, năng lực chế biến; có chiến lược đẩy mạnh đầu tư và phát triển sản phẩm tại thị trường nội địa; xây dựng các kênh phân phối phù hợp.